Giới thiệu dự án bảo trợ nông nghiệp

Để thực hiện dự án này bạn phải có chút vốn và am hiểu về nông nghiệp. Nhiệm vụ của bạn là đi khắp nơi tìm kiếm những người nông dân đang trồng trọt/chăn nuôi những loại cây trồng/con vật mà nhiều người có nhu cầu để đầu tư cho họ rồi thu mua sản phẩm của họ bán ra thị trường; hoặc tìm kiếm những nơi thích hợp với loại cây trồng/vật nuôi nào đó mà nhiều người có nhu cầu sau đó đầu tư cho người có thể trồng trọt/chăn nuôi rồi cung cấp sản phẩm cho bạn bán ra thị trường. Bạn có thể tài trợ cây giống/con giống, phân bón/thức ăn … cho người nông dân đến khi thu mua sản phẩm sẽ trừ tiền lại. Trong quá trình đầu tư bạn chú ý huấn luyện người nông dân trồng trọt/chăn nuôi đúng qui trình để đầu ra đảm bảo chất lượng. Nếu có vốn lớn bạn có thể mở rộng đầu tư ra khắp các tỉnh thành, thậm chí vươn ra thế giới. Để có thể tiêu thụ hết những sản phẩm mình thu mua bạn phải biết xây dựng thương hiệu, thiết lập các kênh bán hàng sỉ và lẻ … Nếu biết cách thực hiện, lĩnh vực đầu tư này không chỉ đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho bạn mà còn cho mọi người.

Du an bao tro nong nghiep

Tôi biết một số người làm tương tự như trên chỉ sau vài năm đã trở nên giàu có. Người nông dân vốn hạn chế về nguồn lực, kĩ thuật và thị trường …, đầu tư cho người nông dân sau đó thu mua sản phẩm mà họ làm ra rồi tiêu thụ là cách làm rất khôn ngoan. Tất nhiên, chúng ta sẽ hành động theo phương châm hai bên cùng có lợi, không ép người nông dân mà hỗ trợ họ phát triển. Nếu làm được điều này chúng ta sẽ xóa bỏ đi tình trạng thương lái ép người nông dân, người nông dân có thể yên tâm sản xuất, khách hàng được sử dụng những sản phẩm đạt chất lượng … Đây là hướng làm giàu ích nước lợi nhà.

Như bạn biết, người nông dân luôn mong muốn sản phẩm mà mình làm ra được tiêu thụ kì hết với giá cao. Thế nhưng phần vì sản phẩm của họ kém chất lượng, phần vì họ thiếu thông tin về cung cầu, phần vì họ yếu kém trong khâu bán hàng …, cho nên bao năm rồi họ vẫn không có lối thoát.

Một thực tế khá phổ biến ở nông thôn miền núi, vùng cao là bà con không biết trồng cây gì để sản phẩm dễ bán, cho thu nhập cao. Người dân cứ bàn ra tính vào, rồi nghe thông tin chỗ nọ chỗ kia, thậm chí tặc lưỡi làm liều. Và rồi chỉ sau một thời gian ngắn, rất nhiều nơi bà con phải tiếc nuối chặt bỏ vườn cây mà mình mới gây dựng, và chẳng mấy thiết tha với việc thay đổi loại cây trồng khác. Ví dụ gần đây nhất là cây thanh long ở Ninh Thuận, Bình Thuận. Thấy loại quả này được giá, người dân đua nhau trồng, phá vỡ qui hoạch của địa phương. Và kết cục là quả thanh long chất cao như núi, bán rẻ như cho, mà cũng không có người mua. Hay như táo mèo ở vùng Bắc Yên, Sơn La. Nghe thương lái rỉ tai, bà con dân tộc Mông cứ bán táo non, giá chỉ vài ba nghìn đồng một kí, trong khi để chính vụ bán được giá gấp đôi, gấp ba. Hoặc như ở một số bản làng vùng sâu, vùng xa, nhiều bà con người dân tộc thiểu số não lòng nhìn ngô lúa không trổ bông đậu hạt mà nguyên nhân là mua phải giống rởm.

Sau hơn một năm quyết định chặt bỏ gần hai ha cao su, đến bây giờ, anh Ksor Black, ở làng Ngol Tả, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, vẫn không biết nên thay thế bằng cây trồng gì. Anh Black cho biết, năm 2008, anh mua hơn 700 cây cao su giống tại một vườn ươm ở thành phố Pleiku. Tính đến năm ngoái, tổng chi phí cây giống và đầu tư phân bón cho vườn cao su lên tới gần 100 triệu đồng. Tuy nhiên, khi cạo hơn 500 cây đã đạt đủ kích thước thì thấy mỗi cây chỉ cho vài giọt mủ. Tiếc công 6 năm chăm sóc, xót xa vì mất hết vốn liếng đầu tư, nhưng anh Black buộc lòng phải phá bỏ vườn cao su làm củi đun nấu.

Nhiều năm là nông dân sản xuất giỏi của tỉnh Gia Lai, đảm nhận vai trò cán bộ hội Nông dân xã, nhưng ông Phạm Phú Hoan, ở thôn 16, xã Bờ Ngoong, huyện Chư Sê, cũng mua phải giống cây rởm. Ông Hoan cho biết ông và nhiều nông dân trong xã đến một công ty giống cây trồng ở Đắc Lắc mua 600 cây bơ Booth giống về trồng. Nơi bán quảng cáo đây là giống bơ cho trái to, ruột vàng, dẻo, mùi thơm, vị béo … mà năng suất lại cao hơn bơ thường. Tuy nhiên, chỉ sau nửa tháng trồng cây xuống đất, ông Hoan phát hiện toàn bộ đều là giống kém chất lượng. Trồng xong, tôi phát hiện nhiều mắt ghép bị đen, thối mắt ghép rồi chết. Bây giờ còn mấy chục cây nhưng èo uột, không lên được. Hỏi họ, họ chỉ nói qui trình trồng thì bình thường, họ không nói gì về kĩ thuật. Gia đình tôi trồng không được thì buồn. Thứ nhất, thiệt hại về kinh tế, thứ hai là không có nguồn thu hoạch, chẳng nói ai được, chẳng kêu ai được. Bây giờ, tôi tự ươm lấy.

Trong nền kinh tế thị trường, thông tin là hàng hóa, là yếu tố dẫn dắt cả quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ. Cây công nghiệp, ví dụ như cao su, trồng 7 năm sau mới ra mủ mà giống đó không có mủ thì coi như mất trắng. Hoặc như cây mắc ca cũng thế, có rất nhiều loại. Một loại có quả và một loại không bao giờ có quả. Nếu trúng giống không có quả thì coi như cơ nghiệp đi bay. Thông tin về thị trường, thời tiết, mùa vụ … cũng vậy, người nông dân ở miền núi, vùng cao đang rất thiếu. Người trực tiếp làm ra nông sản có nhu cầu và cần phải nắm được những thông tin cốt yếu, liên quan tới chuyện còn – mất của sản phẩm mà mình đã lao tâm khổ tứ.

Lí giải nguyên nhân tình trạng “được mùa mất giá, mất mùa được giá”, tiến sĩ (TS) Võ Mai, phó chủ tịch trung ương hội Làm vườn VN, cho rằng tổ chức sản xuất theo kiểu “mạnh ai nấy làm” chính là vấn đề. Theo TS Võ Mai, lâu nay cứ làm kế hoạch theo kiểu cộng từ dưới lên trên mà không nghiên cứu xem trồng bao nhiêu ha trái này trái kia, cây này cây nọ để làm gì (phục vụ trong nước bao nhiêu, xuất khẩu thế nào, chế biến ra sao …). “Người nông dân mình cứ thấy hàng xóm trồng cái gì thì trồng theo, cây gì đang được giá thì chặt hết cây cũ để trồng rồi lại rơi vào cảnh rộ lên và mất giá. Kế hoạch của Nhà nước chưa được thực hiện theo nhu cầu của thị trường, không phải lỗi của người nông dân”, TS Võ Mai nêu ý kiến. Bà Mai đánh giá sở dĩ người trẻ bỏ nông thôn, bỏ ruộng vườn đi vì làm nông vất vả quá mà thu nhập lại bấp bênh. Nhiều người bỏ lên thành phố làm công nhân vì nhìn thấy sự chênh lệch giữa cuộc sống nông thôn và thành thị.

Chuyên gia thương mại Vũ Vinh Phú đánh giá trong những lần khủng hoảng kinh tế thì nông nghiệp vẫn là bệ đỡ vững chắc cho cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, nhưng người nông dân luôn phải chịu nhiều thua thiệt như thương lái ép giá, thị trường bất ổn, thông tin không đủ, hạ tầng thiếu thốn, hàng dỏm – hàng giả … “Sự kết nối giữa người nông dân và thị trường rất lỏng lẻo. Từ đó thương lái sẽ ép giá, kéo theo một nền sản xuất, thương mại không công bằng” – ông Phú nói.

Ông Nguyễn Hữu Tùng, giám đốc công ty Trợ nông Hà Nội, chỉ ra những nguyên nhân khác xuất phát từ phía người nông dân như thói quen canh tác lạc hậu, nhỏ lẻ dẫn đến rủi ro mất mùa, sâu bệnh. “Rủi ro này có thể lên đến 30%. Chẳng hạn một sào hành (360m2) có thể thu về 30 triệu đồng/năm, chi phí sản xuất ban đầu khoảng 18 triệu đồng, nghĩa là người nông dân có lãi khoảng 12 triệu đồng/sào/năm. Nhưng với kiểu canh tác cũ, rủi ro 30% thì xem như người dân mất trắng 9 triệu/năm, tiền lãi chỉ còn 2 – 3 triệu. Thế nhưng họ vẫn chấp nhận lấy công làm lãi” – ông Tùng đưa ra ví dụ cụ thể. Lí giải việc vẫn chấp nhận canh tác theo kiểu cũ, bất chấp rủi ro cao, ông Tùng cho rằng do người nông dân không được tiếp cận khoa học kĩ thuật, công nghệ và “đôi khi họ cũng không tin tưởng vào mô hình canh tác mới khi mô hình này đòi hỏi đầu tư nhiều, người nông dân ngại đầu tư”, ông Hữu Tùng chia sẻ thêm. Ông Nguyễn Hữu Tùng nhận định còn những hộ làm nông nghiệp không chịu đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm. Lấy ví dụ như chuối, năm ngoái Trung Quốc thu mua chuối nhiều, kể cả chuối loại 2, loại 3 để sấy khô xuất khẩu. “Vì thế, người dân mình cứ đinh ninh là chuối loại 2, loại 3 cũng xuất khẩu được. Thực tế những loại chuối bị mất giá, bị đổ đều là chuối kém chất lượng, hàng loại 1 chúng tôi vẫn xuất đi đều đều mỗi ngày”, ông Tùng cho biết. Từ đó có thể thấy vì người nông dân không tập trung chăm chút cho cây trồng của mình để sản phẩm đạt được chất lượng như nhà máy hay thương lái yêu cầu nên buộc phải đổ đi.

Theo chuyên gia Vũ Vinh Phú, cải cách phải tiến hành từ chính sách chứ không phải từ người nông dân. Những việc cần làm là tập hợp người nông dân lại để tổ chức sản xuất lớn, sao cho người nông dân là cổ phần của chính những của cải mình làm ra. Bên cạnh đó là gắn kết sản xuất với phân phối thành một chuỗi và phải đưa ra luật bán lẻ, luật cạnh tranh, luật liên kết, luật phân chia lợi nhuận… theo hướng có lợi cho nông dân. “Thái Lan có luật bán lẻ và luật liên kết qui định rõ phần người nông dân được hưởng. Ví dụ 1 kg đường bán ra thì người nông dân được hưởng 70%, còn lại 30% chia cho các khâu phân phối. Phải qui định chặt chẽ để bảo vệ người nông dân. Hãy đi cày với người nông dân để làm chính sách” – ông Phú nhấn mạnh.

Đồng tình theo hướng phải tổ chức sản xuất có qui mô, TS Võ Mai nhận định chỉ khi nào tổ chức được hợp tác xã, kinh tế tập thể và có chính sách hỗ trợ cụ thể, rõ ràng thì mới giữ chân được người trẻ ở lại làm nông nghiệp. Ngoài ra, cần có sự tham gia nòng cốt của các doanh nghiệp vào hợp tác xã vì doanh nghiệp nắm được thông tin thị trường, từ đó định hướng được sản xuất và lôi kéo người nông dân cùng tham gia trồng trọt, canh tác. Một vấn đề khác cần làm, theo TS Võ Mai, là nên chú trọng, khuyến khích hơn nữa khâu chế biến để khi sản phẩm bị dội hoặc những loại trái cây nhỏ, xấu có đường ra, thay vì phải đổ bỏ hay bán với giá rẻ mạt như hiện nay.

Chúng ta cần đưa ra tiêu chuẩn rõ ràng hơn cho người nông dân, đó là ý kiến của ông Nguyễn Hữu Tùng. Bởi trong chuỗi cung ứng, thị trường yêu cầu hàng gì thì người nông dân sản xuất hàng ấy. Do đó, yêu cầu càng rõ ràng bao nhiêu thì người dân càng có cơ sở để chăm chút sản phẩm của mình bấy nhiêu. “Yêu cầu chuối phải to, ngọt, có mùi hương nhưng lại không nói rõ kích cỡ, độ đường, độ tinh dầu bao nhiêu là đạt chuẩn. Trong khi đó, người nông dân chủ yếu sản xuất dựa vào kinh nghiệm, mức độ áp dụng khoa học kĩ thuật chưa cao”, ông Tùng nêu ví dụ.

Theo ông Nguyễn Hữu Tùng, việc chuyển giao khoa học công nghệ cho người nông dân phải sâu sát hơn nữa để họ hiểu hơn về cây trồng của mình. Ngoài ra, cần cung cấp cho người nông dân những thông tin về thổ nhưỡng, khí hậu, nhất là trong điều kiện thời tiết có nhiều biến động như những năm gần đây. Bên cạnh đó, việc đưa ra những chỉ dẫn địa lí và thương hiệu địa phương cũng hết sức cần thiết cho người nông dân, các chuyên gia nhận định. Người nông dân cũng phải có kỉ luật thép. Ở một góc độ khác, các chuyên gia đưa ra lời khuyên rằng người nông dân phải tự cải thiện việc canh tác của mình để không nằm ngoài chuỗi sản xuất – cung ứng của thị trường. Người nông dân phải tuân theo những “kỉ luật thép” để sản phẩm làm ra đạt yêu cầu, mang về lợi nhuận cao, xứng đáng với công sức bỏ ra.

Thiếu định hướng, bảo trợ nông nghiệp khiến cho người nông dân chạy ngược chạy xuôi mà cuộc sống của họ vẫn bấp bênh. Dự án này sẽ góp phần xóa bỏ tình trạng đó giúp cho đất nước chúng ta ngày một tiến lên.

 

Ai quan tâm xin liên hệ:

Chat Master Club

Website: https://chatmasterclub.wordpress.com

E-mail: chatmasterclub@yahoo.com

 

20/04/2016

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: