Giới thiệu dự án kiếm tiền từ rác

Nhiều người không hiểu dự án này liền bảo “rác thì làm được gì?”, nhưng đối với tôi “rác chính là tiền”. Nếu bạn chịu khó lăn lộn, không sợ mang tiếng … và không có nhiều vốn để khởi nghiệp thì dự án này là lựa chọn số một cho bạn đó!

Đừng e ngại khi khởi đầu dự án bằng cách đẩy xe đi thu gom những gì người ta gọi là rác, đồ ve chai, sau đó về phân loại rồi đưa vào qui trình xử lí. Từ những đồ bỏ đi hoặc gần như bỏ đi này bạn sẽ biến chúng thành những sản phẩm có giá trị. 60% những thứ bị vứt vào thùng rác có thể tái chế. 50% rác thải gia đình có thể làm phân compost. 100% thuỷ tinh đã sử dụng có thể tái chế (thuỷ tinh cho vào bãi chôn lấp không bao giờ phân huỷ được). Giấy tái chế chỉ cần 70% năng lượng và sinh ra ít hơn 73% ô nhiễm so với việc sản xuất giấy từ nguyên liệu thô. Tái chế một hộp thiếc có thể tiết kiệm năng lượng đủ để mở tivi trong ba giờ đồng hồ. Tái chế một chai thuỷ tinh có thể tiết kiệm năng lượng để phát cho máy tính trong 25 phút. Tái chế một chai nhựa có thể tiết kiệm năng lượng đủ để phát bóng đèn 60W trong ba giờ đồng hồ …

Du an kiem tien tu rac

Ở nhiều quốc gia trên thế giới rác được phân làm hai loại: Tái chế và không thể tái chế. Còn tại Nhật Bản lại được phân ra tới 4 loại rác chính: Rác cháy được, rác không cháy được, rác ngoại cỡ và loại cuối cùng bao gồm các chai lọ thủy tinh, vỏ lon … Rác có thể đốt cháy bao gồm các loại rác nhà bếp như rau, củ, thịt cá …; rác giấy như giấy vệ sinh, tã giấy, giấy gói thực phẩm hay lọ đựng bằng nhựa vinyl, lọ đựng xà phòng … Ngoài ra, gỗ, cao su, da và các sản phẩm quần áo cũ cũng được coi là rác cháy được. Rác không cháy được là những vật dụng bằng nhựa dài như ống nhựa, dây nhựa, băng cát-set hoặc băng video … hay các chai lọ bằng nhựa, vật dụng bằng sứ, kim loại, thủy tinh vỡ, nhựa PVC … Rác ngoại cỡ là các vật dụng như kệ li chén, kệ sách, sofa, máy hút bụi, xe đạp … Bên cạnh đó, những món đồ chơi có kích cỡ lớn hơn 50 cm cũng được coi là rác ngoại cỡ. Chai lọ, vỏ lon gồm những loại vỏ nhôm, thiếc, chai lọ thủy tinh. Một số loại rác như pin, nhiệt kế sẽ được xếp vào loại rác độc hại và phải tuân theo qui định riêng.

Tuy nhiên, nếu tất cả chỉ có vậy thì đây không còn là một trong những qui trình phân loại rác phức tạp nhất thế giới nữa. Người Nhật sẽ còn phải tuân theo một số qui định nghiêm ngặt khác trong quá trình xử lí rác. Đầu tiên, đối với rác cháy được, người dân bắt buộc phải bỏ vào trong túi và buộc lại. Các loại rác nhà bếp đều phải vắt sạch nước, bọc giấy báo rồi mới được phép cho vào túi rác. Gỗ vụn, cành cây trong vườn phải được cắt ngắn với kích cỡ nhỏ hơn 50 cm. Ngoài ra, các loại giấy vụn bỏ đi thì chỉ cần buộc lại, không cho vào túi nhưng không được phép vứt vào ngày trời mưa. Tiếp theo là rác không cháy được. Các loại rác không cháy được phải được đựng trong các túi nhựa trong suốt. Các vỏ chai nhựa rỗng phải được tháo nắp, gỡ mác, rồi cho vào loại túi riêng. Trong đó các chai làm bằng nhựa PET (Polyethylene terephthalate) còn phải được rửa sạch và giẫm bẹp trước khi cho vào túi. Phần nhãn mác và nắp chai sẽ được phân vào loại “rác cháy được”. Khi muốn bỏ các loại rác ngoại cỡ như giường, tủ, quạt … bạn cần gọi điện trước để thông báo với công ty xử lí rác thải và phải tốn một khoản phí từ 1.600 yên đến trên 5.000 yên Nhật (khoảng 300.000 đến gần 1 triệu đồng). Còn đối với các loại chai thủy tinh, vỏ hộp nhôm, thiếc, người dân phải vứt vào thùng rác. Các loại lọ xịt có hóa chất độc hại cần phải đục lỗ để thoát hơi và làm sạch. Các loại rác độc hại như pin, nhiệt kế vỡ … phải được bỏ trong túi bóng, có dán bên ngoài chữ “Yugai gomi – rác có hại”.

Thế nhưng trên đây vẫn chỉ là những bước rất “cơ bản” về quá trình vứt rác tại Nhật. Bên cạnh đó, người dân còn phải nhớ lịch trình thu rác vì các loại rác sẽ được thu gom vào những ngày khác nhau. Vào đầu năm các trạm trung chuyển rác sẽ phát cho mỗi gia đình mà họ phụ trách vệ sinh một tờ lịch treo tường. Trong tờ lịch này ghi rõ mỗi ngày gom và vận chuyển loại rác nào, tuần nào thu giấy, tuần nào thu rác cháy được. Có loại rác được thu gom hàng tuần nhưng cũng có loại hai tuần mới được “dọn sạch” một lần. Đặc biệt hơn, có loại rác phải chờ một tháng hay một năm sau mới được loại bỏ khỏi nhà, và thời hạn để những loại rác quá khổ được thu gom là khoảng hai lần/năm. Không chỉ vậy, mỗi khu vực sẽ có qui định riêng về túi rác sử dụng, trong đó phần lớn sẽ yêu cầu loại bán trong siêu thị, có màu sắc qui định. Ví dụ, rác cháy được sẽ bỏ vào túi vàng, rác không cháy được sẽ bỏ vào túi xanh. Nếu không tuân thủ, túi rác của bạn sẽ bị trả về kèm theo một lá thư nhắc nhở. Bên cạnh đó, ngay cả cách phân loại rác cũng sẽ khác biệt tùy theo điều kiện môi trường, dân số của từng vùng. Thậm chí như thị trấn Kakimatsu ở Shikoku còn chia rác ra làm … 44 loại khác nhau.

Nhật Bản thực chất đã phải đối mặt với rất nhiều vấn đề trong việc xử lí rác. Vấn đề lớn nhất là thiếu đất để chôn rác. Kể từ thập niên 60 của thế kỉ XX, Nhật Bản đã nhận ra rằng với dân số ngày càng đông và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng nếu không tìm ra giải pháp giải quyết rác thải thì sớm muộn Nhật Bản sẽ phải sống trong bể rác. Theo thống kê của Waste Atlas, mỗi năm trung bình một người Nhật thải ra tới 356,2 kg rác. Với dân số rơi vào khoảng 127 triệu người thì tổng cộng trên toàn nước Nhật sẽ có khoảng 45 triệu tấn rác mỗi năm, đứng thứ 8 trên thế giới. Tuy nhiên, không giống như Mĩ hay Trung Quốc, Nhật Bản không có chỗ chôn rác. Vì vậy, họ phải xây dựng một hệ thống xử lí rác qui củ, trong đó quan trọng nhất chính là giáo dục người dân có ý thức phân loại rác. Đúng như vậy, ý thức giữ gìn vệ sinh của người Nhật Bản rất cao. Trên thực tế, đường phố tại Nhật Bản có rất ít thùng rác công cộng, chủ yếu chỉ có tại các trung tâm thương mại, cửa hàng tạp hóa … thế nhưng rác lại không hề xuất hiện trên đường phố. Đối với người Nhật, hành vi xả rác là không hề văn minh, và họ thậm chí đã tập cho mình thói quen mang theo một chiếc túi để luôn bỏ rác của mình vào đó.

Rác là sản phẩm tất yếu của cuộc sống. Càng ngày con người càng tạo ra nhiều rác hơn, với những thành phần phức tạp hơn. Rác thải sinh hoạt ở thể rắn thường gồm giấy, thuỷ tinh, kim loại, nhựa, vải, thức ăn cành cây, xác động vật … Trong đó, các chất hữu cơ tự nhiên như lá, cành cây, thức ăn thừa, xác chết động vật … là những thứ rất chóng phân huỷ, gây ô nhiễm môi trường. Khi bị phân huỷ, chúng bốc mùi khó chịu, phát sinh nhiều vi trùng gây bệnh thu hút côn trùng, ruồi, nhặng, chuột, bọ, tạo điều kiện cho chúng phát triển gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và truyền bệnh sang người và gia súc. Tuy nhiên, nếu sử dụng hợp lí, lượng chất hữu cơ này có thể trở thành nguyên liệu rất tốt để sản xuất phân hữu cơ, khí sinh học. Rác thải là giấy, nhựa, thuỷ tinh, kim loại … là những thứ có thể tái chế hoặc tái sử dụng được. Tái chế tức là dùng nó làm nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm mới. Tái sử dụng tức là thu hồi, rửa sạch và sử dụng lại. Việc tái chế, tái sử dụng đem lại nhiều lợi ích: Làm giảm lượng rác thải ra môi trường; tạo hàng hoá sử dụng; tạo công ăn việc làm cho những người làm công tác thu nhặt, phân loại rác; thay thế một phần nguyên liệu đầu vào, do đó tiết kiệm được tài nguyên, khoáng sản và công khai thác chúng; góp phần thay đổi thói quen của con người trong tiêu thụ và thải loại; các chất thải cháy được như chất hữu cơ, giấy, vải, nhựa … có thể dùng làm chất đốt, lấy nhiệt cung cấp cho sưởi ấm, sấy hàng hoá. Tuy nhiên, phương pháp này có thể sinh ra nhiều loại khí độc có hại cho sức khoẻ. Những phần không thể tái chế, tái sử dụng, làm phân bón được của rác thải có thể dùng làm vật liệu san lấp trong xây dựng … Như vậy, rác thải không hoàn toàn là thứ bỏ đi, vô giá trị mà vấn đề là con người đối xử với chúng như thế nào.

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nước ta cũng xuất hiện hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trường đáng báo động. Ô nhiễm do chất thải, nước thải, khí thải … từ quá trình sinh hoạt, buôn bán, các hoạt động công nghiệp là những vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà toàn thế giới rất quan tâm. Thời gian qua đã xuất hiện những vấn đề môi trường như bèo tây là nguyên nhân chính gây ách tắc dòng chảy của một số con sông Nam bộ hoặc rác hữu cơ, chất thải, nước thải thủy sản gây mùi hôi, ô nhiễm môi trường không khí … Nguyên nhân do công tác quản lí loại chất thải, nước thải này vẫn gặp bất cập như thiếu người có năng lực quản lí. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh sản xuất vẫn chưa đầu tư xây dựng các hệ thống xử lí chất thải, nước thải hoặc đã có hệ thống xử lí nhưng lại hoạt động không hiệu quả. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của vấn đề là chúng ta vẫn chưa hiểu rõ được những lợi ích mà các loại chất thải này có thể mang lại. Rác sẽ vẫn là rác nếu chúng ta nhìn nhận chúng như những thứ không có giá trị, phải loại bỏ. Hiện lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam khoảng 17 triệu tấn/năm. Trong đó, vùng đô thị phát sinh đến 6,5 triệu tấn/năm. Thành phần chính của rác thải sinh hoạt chủ yếu chất hữu cơ, chiếm 50 – 70%. Việc quản lí chất thải rắn tại các địa phương đại đa số theo hình thức vận chuyển – thu gom – xử lí bằng chôn lấp. Việc chôn lấp như vậy sẽ gây rất nhiều lãng phí như tốn diện tích đất lớn từ vài chục đến vài trăm ha cho việc xây dựng bãi chôn lấp; chi phí xây dựng, vận hành cao. Ngoài ra, các nguồn nguyên liệu có thể tái chế gồm chất hữu cơ làm phân vi sinh; giấy, nhựa, kim loại có khả năng tái chế … bị vùi chôn trong cát, hàng trăm năm sau mới có thể phân hủy, gây lãng phí … Bên cạnh đó, các nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm môi trường, dịch bệnh phát sinh từ các bãi chôn lấp cũng rất lớn. Trong những năm gần đây, một số địa phương như Hà Nội, TP HCM, Ninh Thuận, Huế … đã đầu tư xây dựng nhà máy tái chế chất thải. Tuy nhiên số lượng các nhà máy như vậy không nhiều, trong đó chỉ có một vài nhà máy hoạt động hiệu quả. Nguyên nhân là do rác chưa được phân loại tại nguồn, hoặc thiếu thiết bị chuyên dụng để thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt. Rác thải vẫn bị đổ chung vào một nơi, không được phân loại gây khó khăn cho việc xử lí bằng các phương pháp tái chế, composting, đốt rác phát điện, chôn lấp … Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa xuất phát từ ý thức của người dân Việt Nam về việc phân loại rác để tái chế, bảo vệ môi trường chưa cao. Hệ quả tất yếu là vấn đề ô nhiễm do rác thải ngày một trầm trọng. Người dân phải sống chung với ruồi, muỗi. Không khí nặng mùi từ các bãi rác khiến nhiều người mắc các bệnh về đường hô hấp. Thêm vào đó, nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng do nước rỉ rác gây ra khiến con người dễ mắc các căn bệnh nguy hiểm như ung thư, bệnh ngoài da nếu sử dụng … Việc tái chế rác thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế. Chúng làm giảm sự phụ thuộc của con người vào việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt. Với lượng hữu cơ lớn trong rác thải sinh hoạt (50 – 70%) thì đây sẽ là nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất phân vi sinh, một loại phân rất tốt cho cây trồng và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó việc tái chế còn giúp chúng ta thu hồi các loại nguyên liệu như nhựa, giấy, kim loại …, tránh lãng phí tài nguyên, ngăn ngừa được ô nhiễm. Để việc tái chế đạt hiệu quả cao thì công tác quản lí phải được thực hiện tốt ngay từ giai đoạn đầu, tại nguồn phát sinh chất thải. Dựa vào thành phần, tính chất, rác thải sẽ được phân chia thành nhiều loại khác nhau và đựng trong các bao, thùng rác khác nhau. Theo đó mỗi loại rác hữu cơ lại đựng vào mỗi loại thùng màu sắc khác nhau để giúp cho việc phân loại rác dễ dàng hơn. Song song với việc phân loại rác tại nguồn thì các cơ quan quản lí môi trường cần đầu tư thiết bị thu gom chuyên dụng để vận chuyển từng loại rác cụ thể đến nơi tái chế. Các nhà quản lí có thể khuyến khích, hướng dẫn người dân phân loại rác, sử dụng sản phẩm làm từ nguồn nguyên liệu tái chế …

Xu hướng tương lai là con người ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ môi trường, bên cạnh đó, tài nguyên phục vụ đời sống con người sẽ cạn kiệt cho nên đây là mô hình kinh doanh đầy triển vọng. Cái khó của người thực hiện dự án là Việt Nam là một đất nước nghèo, khoa học kĩ thuật chưa phát triển, tuy nhiên nếu ai đam mê lĩnh vực này thì có thể làm từ từ theo trình tự gợi ý dưới đây:

Bước 1: Nghiên cứu, phát triển.

Bước 2: Thu gom, phân loại.

Bước 3: Biến thành sản phẩm.

Bước 4: Mở rộng thị trường.

Nghề ve chai đem lại thu nhập cho rất nhiều người. Trong số đó có người đã vươn lên giàu có từ nghề này. Tuy nhiên, để phát triển lớn mạnh cần có cách làm bài bản, khoa học, sáng tạo, thông minh … hơn. Để làm tăng giá trị của vật có giá trị gần như bằng không cần sự đầu tư nghiêm túc về tất cả mọi mặt, và chắc chắn bạn không thể thành công nếu không có một quyết tâm đủ lớn.

 

Ai quan tâm xin liên hệ:

Chat Master Club

Website: https://chatmasterclub.wordpress.com

E-mail: chatmasterclub@yahoo.com

 

22/02/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: