Vận hạn qua khí sắc

“Khí sắc định hình, hành niên chi lưu cửu” (khí sắc định hình nhưng theo năm tháng có thể thay đổi).

Y học Đông phương xem khí sắc là hiện thân của khí huyết. Khí ứng với hơi thở, giọng nói, gân cốt. Huyết ứng với da dẻ, máu thịt.

Khí sắc bên ngoài có màu da, quan trọng nhất là ở mặt (trán, mũi, miệng, lưỡng quyền, tai). Kế đến là ở mu, lòng bàn tay.

Khí sắc không chỉ là sắc diện mà còn là một phần tinh thần. Khí sắc tốt là da dẻ tươi nhuận, mỏng, bóng mà không nhờn, mịn mà rắn chắc, nhãn quang tươi tắn, bình ổn.

Người phương Tây ứng với hành kim sắc trắng. Người Đông Nam Á ứng với hành thổ sắc vàng. Người châu Phi ứng với hành mộc sắc xám, nâu. Đối chiếu với ngũ hành, người da trắng cần có sự hỗ trợ của sắc vàng (thổ sinh kim), người da vàng cần có sự hỗ trợ của sắc đỏ (hỏa sinh thổ), người da xám, nâu cần có sự hỗ trợ của sắc đen (thủy sinh mộc).

Khí sắc cũng cần phù hợp theo mùa: Xuân: xám, mộc. Hạ: đỏ, hỏa. Thu: trắng, kim. Đông: đen, thủy. 15 ngày cuối mùa: vàng, thổ.

Sắc theo vận khí là:

+ 1 – 15 tuổi sắc tốt ứng ở tai (tươi hồng).

+ 15 – 30 tuổi sắc tốt ứng ở trán (tươi hồng).

+ 30 – 50 tuổi sắc tốt ứng ở sống mũi, sơn căn (tươi hồng).

+ Từ 50 tuổi về sau sắc tốt ứng ở cằm (tươi hồng).

Nên xem khí sắc khi người ấy không uống trà, rượu, bia …, không vận động mạnh, không giận dữ … Xem lúc sáng sớm, khi người được xem ngồi tĩnh tại.

Các loại khí sắc tiêu biểu:

+ Quầng mắt xanh: Vận đang bí.

+ Mũi tươi hồng hay vàng tươi là tài vận, quan lộc đang hạnh thông.

+ Mũi trắng: Có tang.

+ Mũi đỏ bầm: Gặp họa.

+ Mũi đen ở đầu: Bệnh nặng.

+ Ngũ khiếu đen (chuẩn đầu, tai, trán, ấn đường, môi) là ngũ tạng tuyệt mệnh, sắp chết.

+ Cằm đỏ bầm: Tán tài.

+ Ấn đường đen: Trầm uất, bế tắc.

+ Mục quang (mắt): Hơi cười cợt, lờ đờ là mắc bệnh tâm thần.

+ Mục quang có tia máu đỏ: Uất khí, sắp gây họa và gặp họa.

Do vậy khí sắc có hai loại: Sáng nhuận là tốt, vàng tươi hay hồng nhạt là tốt. Trái lại, khô khan là xấu, màu đen hay màu xám là xấu. Các màu đỏ bầm, nâu; các sắc nhờn, nhão đều không tốt, không ổn định.

Tuy nhiên, cũng cần dựa vào nguyên tạng mà suy. Nếu màu da mặt là đen thì sắc nâu hồng là tốt. Da mặt trắng ngả màu vàng bệch là xấu, thường gặp ở người viêm gan.

Chat Master Club

11/06/2012

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: