Xem lưỡi

Lưỡi là cơ quan vị giác nằm trong khoang miệng của động vật có xương sống. Ở động vật có vú, lưỡi là khối cơ vân chắc, phủ ngoài bằng lớp biểu bì phân lớp, phía dưới là lớp mô liên kết. Mặt trên lưỡi có nhiều nhú cảm giác (chồi cảm giác), nhú chứa các cơ quan hoá học nhạy cảm với chất hoá học có trong dung dịch. Trên lưỡi chia thành một số vùng tương ứng với khả năng cảm giác, vị giác khác nhau. Ở đa số động vật, lưỡi gắn với phía sau khoang miệng và thò ra phía trước, cử động được. Ở cá, lưỡi là một nếp gấp của mô để hỗ trợ cho động tác nuốt. Một số loài lưỡng cư như ếch, cóc, lưỡi gắn ở phía trước khoang miệng, đầu có chia nhánh và có thể phóng ra để bắt côn trùng. Ở người, một số bệnh được thể hiện qua lưỡi như lưỡi đỏ, bóng trong bệnh thương hàn; lưỡi trắng, bự trong bệnh tiêu hoá; lưỡi nhẵn chứa các nhú vị giác trong bệnh thiếu máu Biecme (bệnh gọi theo tên của thầy thuốc người Đức A. Biecme); lưỡi đỏ, phù nề trong dị ứng thuốc. Trong Đông y, khám lưỡi là một thành phần của vọng chẩn (nhìn); biểu thị một số tình trạng bệnh lí của phủ tạng, biến hoá của bệnh tật.

Lưỡi nằm bên trong miệng và là một phần cơ quan quan trọng của cơ thể. Mặt trên của lưỡi có những hạt sần nhám, những hạt này gọi là gai lưỡi. Gai lưỡi gồm những hạt “núm” vị giác. Cuống lưỡi có những thớ tế bào giống như sợi tóc. Ở chóp lưỡi có những thớ tề bào thần kinh. Những thớ này nối với dây thần kinh vị giác. Có bốn vị chính: Ngọt, mặn, chua và đắng cay.

Tất cả các vị khác là sự kết hợp của các vị được kể ở trên. Bốn vị chính này được cảm nhận theo những phần khác nhau của lưỡi. Chẳng hạn, vị mặn và vị ngọt được cảm nhận ở đầu lưỡi, vị chua được cảm nhận ở hai bên cạnh lưỡi và vị đắng được cảm nhận ở phần cuối lưỡi. Lưỡi cũng nhạy cảm với các chất kích thích như tiêu chẳng hạn.

Vị của thức ăn chỉ được cảm nhận khi nó ở dạng lỏng. Khi ta nhai, một phần thức ăn trộn vào trong nước bọt làm kích hoạt những gai vị giác, các thớ tế bào thần kinh truyền tín hiệu vị giác tới trung tâm vị giác trong não bộ. Ngoài lưỡi ra, mũi của chúng ta cũng có thể ngửi được mùi thức ăn. Ngửi là một phần của vị giác.

Khi chất lỏng được đưa vào miệng, thì lưỡi nếm thông qua các “dây thần kinh mùi vị”. Tín hiệu mùi vị này được truyền lên não và ta cảm nhận được vị của thức ăn này. Chúng ta không cảm nhận được mùi vị một cách chính xác khi bị cảm, sốt hoặc bị táo bón (chứng khó tiêu hoá). Bởi vì những hạt gai vị giác lúc đó bị phủ bởi những chất đục và không được kích hoạt lên. Nhiệt độ của cơ thể hoặc thậm chí độ nóng của thức ăn cũng không kích hoạt những hạt gai vị giác.

Như vậy, khi đau yếu, chúng ta không cảm thấy muốn ăn. Số lượng các hạt “gai” vị giác ở trên lưỡi của một người trưởng thành có khoảng chừng 5000 hạt, lưỡi của trẻ con thì ít hơn rất nhiều. Khi chúng ta già đi, những hạt này sẽ mất đi khả năng của chúng và số lượng các hạt này sẽ giảm đi. Người ở lứa tuổi 70, số lượng hạt này chỉ còn 40 hạt. Giống như tế bào da của chúng ta, nó thường xuyên được thay thế. Cứ mỗi 10 ngày, những hạt gai vị giác sẽ được thay thế.

So với các bộ phận khác thì lưỡi (kể cả mặt sau) là thước đo hay “hàn thử biểu” khá chính xác khi dự báo về sức khỏe của hệ thống tiêu hóa. Vì tất cả các loại bệnh đang tồn tại trong cơ thể đều thể hiện qua hệ thống lông (fur) của lưỡi, tạo ra những loại màu sắc khác nhau. Cùng với lưỡi, răng của con người cũng có hiện tượng này, chủ yếu là do vệ sinh kém, hoặc do rối loạn cảm giác hay viêm nhiễm.

Lưỡi khỏe thường có màu hồng mịn và một khi xuất hiện lông cho thấy sức khỏe có vấn đề. Đây là tình trạng bệnh lý do tăng sinh các nhú, các nhú dài ra, dày lên tạo nên hình ảnh giống như đám cỏ bị đổ rạp xuống. Lưỡi lông cũng thường bị nhiễm sắc tố nâu đen do các vi khuẩn tạo sắc tố gây nên. Một trong những dấu hiệu lưỡi xuất hiện lông là bệnh về đường tiêu hóa hoặc dấu hiệu viêm nhiễm của chính lưỡi. Màng nhầy cao phủ trên mặt lưỡi có chứa rất nhiều đài vị giác và chính các đài vị giác này đã bị viêm.

Những người mắc bệnh viêm dạ dày, viêm ruột mạn tính, viêm đại tràng và táo bón thường có lưỡi màu trắng và đôi khi lưỡi còn bị sưng to hơn bình thường. Những người mắc bệnh dạ dày mạn tính có lượng axít dạ dày thấp, bệnh uxơ dạ dày mạn tính hoặc loét tá tràng thì lưỡi cũng xuất hiện lông trên bề mặt. Đôi khi hiện tượng lông trên lưỡi còn xuất hiện sau bữa ăn no đủ ở những người khỏe mạnh. Nó thường xuất hiện vào buổi sáng nhưng sau đó lại biến mất. Nếu xuất hiện liên tục thì nên đi thăm khám bác sĩ.

Ngay từ thời xa xưa của con người đã nhận được rất nhiều thông tin qua lưỡi, đặc biệt là bề mặt lưỡi. Ngày nay khoa học phát triển, kinh nghiệm chẩn đoán trên vẫn tồn tại và không ngừng được hoàn thiện, tự mỗi người có thể khám bệnh cho mình qua sức khỏe lưỡi. Ví dụ, sức khỏe tim và gan đánh giá qua bề mặt đầu lưỡi, phần giữa lưỡi nói về sức khỏe dạ dày và phần gốc lưỡi là sức khỏe bụng và hai bên lưỡi lại có liên quan đến sức khỏe gan và thận.

Bình thường, lưỡi hoạt động liên tục để thực hiện nhiệm vụ của mình, tuy nhiên trên bề mặt lưỡi gồm các gai lưỡi và nhiều đường rãnh hẹp dọc ngang là nơi trú ngụ của vi khuẩn gây mùi hôi trong miệng và sinh bệnh tại lưỡi. Nhận biết một số bệnh khi quan sát lưỡi như sau:

– Cơ thể khỏe mạnh: Lưỡi bình thường cả về màu sắc lẫn kích thước, không có lông, không biến màu, màu sắc hơi hồng, độ ẩm ôn hòa và vị giác không bị rối loạn.

– Viêm lưỡi bụi gai từng đám: Biểu hiện thành từng vết bụi gai khu trú đỏ và nhẵn, không trợt, không đau. Có thể có các hình thái lâm sàng sau: Đám trụi gai thành từng đám nhẵn, đều đặn, tròn hoặc bầu dục, liên kết thành từng mảng, không cứng, không đau, đơn độc hoặc nhiều đám ở một vùng nào đó trên lưỡi. Đám viêm lưỡi bụi gai hình thoi nằm ở giữa mặt lưỡi. Nguyên nhân của viêm lưỡi trụi gai có thể do các bệnh lý ở răng lợi như sâu răng, viêm lợi, do giang mai, do rối loạn tiêu hoá hoặc không rõ nguyên nhân.

– Lưỡi nứt: Là một tình trạng bẩm sinh, lành tính, trên bề mặt lưỡi có các rãnh sâu. Trong đó có rãnh sâu nhất, rộng nhất chạy dọc ở chính giữa lưỡi, các rãnh ở rìa lưỡi thì ngắn hơn và nông hơn. Niêm mạc lưỡi vẫn bình thường, vẫn phủ lên các rãnh đó. Lưỡi không đau, không cộm nhưng dễ bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm nấm thứ phát nếu vệ sinh không tốt. Điều trị, hiện nay chưa có biện pháp gì điều trị lưỡi nứt. Chủ yếu là giải thích cho bệnh nhân yên tâm, không lo lắng gì vì bệnh lành tính, giữ vệ sinh răng miệng để tránh bội nhiễm nẫm, vi khuẩn. Lưỡi do các sợi cơ cấu tạo thành, là bộ phận mềm, không xương nằm trong khoang miệng dùng để nếm, nói, nhai và nuốt. Lưỡi giúp con người thưởng thức các vị khác nhau trong thực phẩm, nước uống cũng như dược phẩm hoặc các chất khác nhờ một chuyên gia có tên nụ nếm (nằm trên lưỡi). Lưỡi được phân chia thành hai phần là thân lưỡi nằm ở phía trước và cuống lưỡi nằm ở phía sau.

– Lưỡi bản đồ: Là một loại viêm lưỡi biểu hiện thành từng mảng trụi gai, đỏ và nhẵn có viền trắng vằn vèo hình bản đồ, viền hơi gờ cao 1 – 2 mm, vùng trung tâm đỡ đỏ hơn, đỡ trụi gai hơn, có xu hướng bình thường. Bệnh thường bắt đầu bằng một vết nhỏ, màu trắng xám hơi gờ cao ở đầu lưỡi hoặc rìa lưỡi, dần dần lan rộng, đỏ, nhẵn trụi gai, hình ảnh thay đổi từng ngày, không đau, tiến triển dai dẳng. Nguyên nhân gây bệnh có thể do vi khuẩn. Viêm lưỡi bản đồ cũng là bệnh viêm lành tính, nếu không bị loét thì không ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt. Có thể điều trị bằng thuốc giảm đau, kháng viêm, thuốc bôi sát khuẩn theo chỉ định của bác sĩ và xúc miệng, vệ sinh răng miệng sạch sẽ. Bên cạnh đó, bên tránh những thức ăn cay, nóng và đồ uống có cồn.

– Lưỡi lông: Là một tình trạng bệnh lý do tăng sinh các nhú, các nhú dài ra, dày lên tạo nên hình ảnh giống như đám cỏ bị rạp xuống. Lưỡi lông cũng thường bị nhiễm sắc tố nâu đen do các vi khuẩn tạo sắc tố gây nên. Các yếu tố thuận lợi gây nên lưỡi lông là sốt, mất nước, giảm tiết nước bọt, uống kháng sinh trong thời gian dài. Điều trị loại bỏ các yếu tố thuận lợi gây nên lưỡi lông. Dùng các thuốc sát khuẩn nhẹ bôi lên bề mặt lưỡi.

– Viêm lưỡi bệnh lí: Viêm lưỡi do nhiễm khuẩn, nấm, mẫn cảm có thể là bệnh nguyên phát của lưỡi hoặc triệu chứng của một bệnh khác như cơ thể thiếu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B, thiếu vitamin PP, thiếu máu ác tính hoặc thiếu sắt; một số bệnh da phát triển toàn thân như lichen phẳng, aptơ, giang mai, ung thư …. Biểu hiện là lưỡi có thể đỏ, sưng to, xuất hiện mụn rộp, nứt kẽ lưỡi, loét hoặc nhợt nhạt, láng bóng, trơn nhẵn, đau hoặc không. Điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ, có thể sử dụng kháng sinh nếu nhiễm vi trùng, kháng virus nếu do virus, kháng nấm nếu viêm do nấm, bổ sung vitamin nếu viêm lưỡi do thiếu vitamin. Ngoài ra, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng sạch sẽ, tránh các chất kích thích cay nóng, bia rượu …

– Viêm lưỡi di trú: Triệu chứng không rõ ràng. Xuất hiện những vùng hơi đỏ dạng teo có viền bao bọc màu vàng nhẹ, thường nằm trên mặt lưng của lưỡi nhưng cũng có thể xuất hiện ở mặt trước bụng lưỡi hay sàn miệng. Viêm lưỡi di trú tuy không không nguy hiểm và thường tự khỏi nhưng cũng gây những khó chịu cho người mắc phải. Có thể điều trị triệu chứng bằng cách súc miệng đều và vệ sinh răng miệng sạch sẽ.

– Loét lưỡi Apthae: Lưỡi xuất hiện các vết loét ở mặt bụng lưỡi hay ở chóp lưỡi khiến bệnh nhân rất khó chịu và đau, ảnh hưởng đến chức năng nhai và phát âm. Bệnh nhân mắc bệnh cần được điều trị theo đơn thuốc của bác sĩ có thể bôi tại chỗ hoặc uống toàn thân. Nên làm thêm các xét nghiệm để xem có bị thiếu máu hay không.

– Lưỡi trắng: Lưỡi không hồng tươi mà có màu trắng toàn bề mặt lưỡi do viêm nhiễm. Lưỡi trắng chủ yếu do thói quen vệ sinh răng miệng chưa tốt, mắc chứng hôi miệng, khô miệng, hay hút thuốc lá và uống rượu bia. Khắc phục tình trạng trắng lưỡi rất đơn giản, chỉ cần vệ sinh răng miệng sạch sẽ, cạo lưỡi đều đặn, uống nhiều nước lọc và các loại nước hoa quả giúp sạch miệng. Ngoài ra, bệnh nhân có thể làm sạch miệng bằng cách vệ sinh lưỡi và niêm mạc miệng nhẹ nhàng với mật ong trộn chung với một chút nghệ bột sẽ giúp niêm mạc lưỡi và miệng mau phục hồi.

– Bạch sản: Là một dạng sang thương (chấn thương) có khuynh hướng ác tính hóa. Lưỡi và sàn miệng xuất hiện những mảng trắng đồng đều có thể lành tính hoặc hóa ác nên bệnh nhân không thể chủ quan, cần làm sinh thiết để xác định được mức độ bệnh.

– Ung thư lưỡi: Thường gặp là ung thư tế bào vẩy. Ðây là loại ung thư thường gặp nhất ở vùng miệng và lưỡi. Ung thư có thể xuất hiện dưới hình thức là một bạch sản trước đó hoặc cũng hoàn toàn không có triệu chứng gì. Triệu chứng duy nhất để nghi ngờ bệnh là xuất hiện vết loét lâu ngày, màu trắng hay đỏ ở bờ bên của lưỡi, không đau. Trường hợp này rất nguy hiểm, cần được làm sinh thiết để chẩn đoán.

– Viêm loét dạ dày và loét tá tràng: Lưỡi có lông màu trắng ở giữa, chia tách dọc theo hai bên lưỡi.

– Sốt, tiêu chảy, tiểu đường, thiếu máu: Mặt lưỡi khô với nhiều vết nứt nhỏ.

– Chứng khó tiêu và lưỡi sưng: Có dấu hiệu giống như vết răng cắn trên lưỡi.

– Bệnh lá lách: Lưỡi sưng đỏ ở phía bên trái.

– Bệnh rối loạn đường tiêu hóa: Xuất liện lông nâu trên lưỡi.

– Bệnh thận: Lông trắng dọc theo hai bên và phần sau của lưỡi.

– Bệnh viêm miệng: Xuất hiện lông màu trắng trên lưỡi.

– Viêm túi mật: Bề mặt lưỡi có lông nâu vàng.

– Bệnh phổi: Lông trắng dọc theo hai bên và ở phần phía trước đầu lưỡi.

– Mắc bệnh sốt Scarlet: Lưỡi có màu trắng và đỏ (màu dâu tây).

– Bệnh xơ gan: Lưỡi bóng, mịn và có màu đỏ.

– Thiếu máu và suy tim: Lưỡi có màu nhợt nhạt.

– Bệnh gan và túi mật: Lưỡi có lông vàng.

– Rối loạn đường ruột: Lưỡi phẳng và hình thành các đốm đỏ, bóng ở tâm lưỡi.

 

Chat Master Club

26/04/2012

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: